Tình hình giá cả một số mặt hàng thiết yếu tháng 11 năm 2019 13/01/2020 13:15:00 1179

Tình hình giá cả một số mặt hàng thiết yếu năm 2019

Theo số liệu của Tổng Cục thống kê, chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 11/2019 tăng 0,96% so với tháng trước; tăng 3,78% so với tháng 12/2018; tăng 3,52% so với cùng kỳ năm trước. Bình quân 11 tháng năm 2019, CPI tăng 2,57% so với cùng kỳ năm 2018 – mức tăng bình quân 11 tháng năm 2019 thấp nhất trong 3 năm gần đây.

So với tháng trước, trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng chính, có 9 nhóm hàng tăng giá: Hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 2,74%; Đồ uống và thuốc lá tăng 0,2%; Hàng hóa và dịch vụ khác tăng 0,16%; Nhà ở và vật liệu xây dựng tăng 0,13%; May mặc, mũ nón và giầy dép tăng 0,12%; Thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,1%; Thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,04%; Giáo dục tăng 0,04%; Văn hóa, giải trí và du lịch tăng 0,03%; Có 2 nhóm hàng giảm giá: Giao thông giảm 0,73%; Bưu chính viễn thông giảm 0,09%.

Các nguyên nhân làm tăng CPI tháng 11 năm 2019: do dịch tả lợn Châu Phi tại 63 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, tính đến ngày 25/11/2019, tổng số lợn tiêu hủy trên 5,9 triệu con với tổng trọng lượng hơn 350 nghìn tấn, chiếm gần 9% nguồn cung, theo đó, nguồn cung thịt lợn giảm làm cho giá thịt lợn tháng 11/2019 tăng 18,51% so với tháng trước, tác động đến CPI chung tăng 0,78%; từ ngày 1/11/2019 giá gas trong nước điều chỉnh tăng 3.500 đồng/bình 12kg, tăng 0,99% so với tháng 10/2019 do giá gas thế giới tăng từ mức 427,5USD/tấn lên mức 437,5USD/tấn tăng 10USD/tấn.

Các nguyên nhân làm giảm CPI tháng 11 năm 2019: Giá xăng, dầu trong nước được điều chỉnh giảm ngày 31/10/2019 và tăng vào ngày 15/11/2019, bình quân tháng 11/2019 giá xăng dầu trong nước giảm 1,7% so với tháng trước làm giảm CPI chung khoảng 0,07%; trong tháng 11, thời tiết chuyển lạnh ở các tỉnh phía Bắc nên nhu cầu tiêu dùng điện giảm làm cho giá điện sinh hoạt giảm 0,91%.

P:8. BÁO CHÍ - TUYÊN TRUYỀNCHUYEN TRANGNam 2019HUONGẢnh Huong20191208_093533.jpg

Diễn biến một số mặt hàng thiết yếu

Giá thóc gạo, tẻ thường: Tại miền Bắc, giá thóc, gạo tẻ thường tháng 11/2019 nhìn chung ổn định, giá thóc giao động từ 7.500-7600 đồng/kg, giá gạo từ 11.000 – 14.000 đồng/kg. Tại miền Nam, giá thóc gạo tháng 11/2019 giảm nhẹ (giảm 50 đồng/kg) so với 10/2019 do nhu cầu thị trường giảm, giá thóc phổ biến khoảng 4.100-6.000 đồng/kg, giá gạo khoảng 7.300 – 7.700 đồng/kg.

Giá thực phẩm tươi sống: Trong tháng 11/2019, giá thịt lợn tiếp tục tăng do nguồn cung trên thị trường giảm bởi ảnh hưởng của dịch tả lợn châu Phi và tốc độ tái đàn chậm. Mặt khác, dịch bệnh lan rộng, nguồn cung giống giảm nên việc chăn nuôi lợn đòi hỏi chi phí cao cho cả giống, các biện pháp phòng dịch cho chuồng tại, chi phí kiểm dịch thú y…cũng làm gia tăng chi phí sản xuất, kinh doanh thịt lợn. Giá thịt lợn hơi dao động phổ biến khoảng 65.000 – 75.000 đồng/kg. Cá biệt, giá thịt lợn hơi tại một số hộ chăn nuôi nhỏ lẻ tại một số địa phương lên mức 73.000-78.000 đồng/kg. Giá một số hải sản tăng do ảnh hưởng của giá lợn lên cao. Giá các mặt hàng thực phẩm tươi sống khác tương đối ổn định trong tháng 11/2019 do nguồn cung đáp ứng đủ nhu cầu thị trường.

P:8. BÁO CHÍ - TUYÊN TRUYỀNCHUYEN TRANGNam 2019HUONGẢnh Huong20191208_093115.jpg

Giá phân bón: Giá phân bón urê trong nước tháng 11/2019 ổn định do nhu cầu thị trường không có nhiều biến động. Tại miền Bắc giá phân bón giao động khoảng 8.000-8.600 đồng/kg, tại miền Nam giá phân bón giao động khoảng 7.900-8.500 đồng/kg.

Giá đường: Giá bán buôn đường trên thị trường tháng 11/2019 có xu hướng ổn định. Cụ thể giá bán buôn đường RS giao động từ 11.750-12.700 đồng/kg, giá bán buôn đường RE giao động từ 12.800-13.500 đồng/kg.

Giá muối: Giá muối trong nước ổn định trong tháng 11/2019, cụ thể: miền Bắc giá muối từ 1.600-2.700 đồng/kg; Nam Trung Bộ giá muối thủ công từ 1.400-2.200 đồng/kg, giá muối công nghiệp từ 1.100-1.300 đồng/kg; Nam Bộ giá muối từ 1.200-2.000 đồng/kg.

Giá thép: Theo báo cáo của doanh nghiệp sản xuất kinh doanh thép, trong tháng 11/2019 một số nhà máy sản xuất thép xây dựng đã điều chỉnh tăng giá khoảng 100-400 đồng/kg tùy theo từng chủng loại và nhà sản xuất. Hiện nay, giá thép bán tại các nhà máy sản xuất ở mức khoảng từ 10.400-12.600 đồng/kg (giá giao tại nhà máy, chưa bao gồm 10% thuế VAT, chiết khấu bán hàng).

Giá LPG: Giá LPG bán lẻ tăng với mức tăng ở mức phổ biến từ 3.000-3.500 đồng/bình 12kg tùy từng loại, giá bán lẻ tại một số doanh nghiệp kinh doanh LPG như sau: Công ty TNHH MTV dầu khí Thành phố Hồ Chí Minh (Saigon Petro) là 333.500 đồng/bình 12kg, Công ty cổ phần kinh doanh khí Miền Nam là 320.500 đồng/bình 12kg, Công ty TNHH thương mại Trần Hồng Quân là 281.000 đồng/bình 12kg.

Giá xăng dầu: trong tháng 11/2019, Bộ Công Thương đã ban hành 02 văn bản điều hành giá xăng dầu, giá bán lẻ tối đa phổ biến trên thị trường kể từ 15h ngày 30/11/2019 như sau: Xăng E5RON92: 19.819 đồng/lít, Xăng RON95- III: 21.079 đồng/lít, Dầu hỏa: 14.962 đồng/lít, Dầu Điêzen 0.05S: 15.988 đồng/lít, Dầu madut 180CST 3.5S: 11.188 đồng/kg.

Giá xi măng: Sản lượng tiêu thụ của toàn ngành xi măng tháng 11/2019 đạt khoảng 4,5 triệu tấn, sản lượng sản xuất khoảng 4,7 triệu tấn. Một số đơn vị kê khai giá xi măng tại Bộ Tài chính giảm giá các chủng loại xi măng so với tháng 10/2019 với mức giảm từ 10.000- 60.000 đồng/tấn tùy chủng loại.

Giá đô la Mỹ: Tỷ giá trung tâm của đồng Việt Nam với Đôla Mỹ đầu tháng 11/2019 được niêm yết ở mức 23.138 đồng/USD (01/11), đến cuối tháng (ngày 29/11/2019) là 23.162 đồng/USD, tăng 24 đồng/USD so với mức niêm yết đầu tháng. Tỷ giá Đôla Mỹ tại ngân hàng thương mại giao dịch đầu tháng ở mức 23.145-23.265 đồng/USD (mua vào/bán ra) và cuối tháng ở mức là 23.125-23.245 đồng/USD (mua vào/bán ra), giảm 20 đồng/USD.

Tỷ giá hạch toán giữa Đồng Việt Nam với Đôla Mỹ tháng 11/2019 được Bộ Tài chính công bố áp dụng cho các nghiệp vụ quy đổi và hạch toán thu, chi ngân sách Nhà nước bằng ngoại tệ; quy đổi và hạch toán sổ sách kế toán của Kho bạc Nhà nước là 1 USD = 23.155 đồng, tăng 13 đồng so với tháng trước.

Giá vàng: Trong tháng 10/2019, giá vàng trong nước ghi nhận một tháng biến động theo chiều hướng giảm. Giá vàng phiên đầu tháng 11/2019 giao dịch ở mức 41,84-42,14 triệu đồng/lượng (mua vào-bán ra), sau đó, giảm trong hai tuần tiếp theo về mức 41,1-41,38 triệu đồng/lượng. Giá vàng tăng trở lại trong tuần thứ ba nhưng lại giảm trở lại ở tuần cuối tháng. Chốt phiên cuối tháng, giá vàng SJC giao dịch ở mức 41,24-41,49 triệu đồng/lượng (mua vào-bán ra), giảm khoảng 600.000 đồng/lượng so với đầu tháng. So với giá vàng thế giới quy đổi, giá vàng miếng SJC trong nước cao hơn 340.000-400.000 đồng/lượng.

Giá bán vàng 99,99% tại các công ty kinh doanh vàng bạc Nhà nước tại Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh (đầu tháng) dao động lần lượt ở mức 4,072-4,172 triệu đồng/chỉ (mua vào-bán ra), đến cuối tháng giá vàng giao dịch phổ biến ở mức 4,005-4,105 triệu đồng/chỉ (mua vào-bán ra), giảm 67 nghìn đồng/chỉ so với đầu tháng.

THANH HƯƠNG